Tham dự Hội nghị có đại diện lãnh đạo Bộ KH&CN, vụ, viện và 34 giám đốc các Sở KH&CN trên cả nước. Hội nghị được tổ chức theo hình thức trực tiếp kết hợp với trực tuyến tới 34 điểm cầu Sở KHCN các tỉnh.

Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị
Phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị, Bộ trưởng Bộ KH&CN Nguyễn Mạnh Hùng đã dành phần lớn thời gian để phân tích sâu vai trò của KH&CN trong mô hình phát triển hiện nay, đồng thời đưa ra những yêu cầu rất cụ thể đối với lãnh đạo các Sở KH&CN.
Bộ trưởng nhấn mạnh rằng, hệ thống thể chế mới đã tạo ra một không gian hành động rộng, nhưng nếu không thay đổi tư duy thì khoảng trống giữa luật và thực tiễn sẽ tiếp tục tồn tại.
Bộ trưởng khẳng định: “Chúng ta đã chuyển rất mạnh sang phân cấp, phân quyền. Nhưng phân cấp không có nghĩa là Trung ương làm thay địa phương, càng không phải để địa phương chờ xin ý kiến từng việc. Địa phương phải chủ động, dám quyết, dám chịu trách nhiệm trong khuôn khổ pháp luật”.
Theo Bộ trưởng, trong giai đoạn tới, Giám đốc Sở KH&CN không thể chỉ làm tốt vai trò quản lý hành chính hay tổ chức các nhiệm vụ khoa học đơn lẻ.
Yêu cầu đặt ra là phải tham gia trực tiếp vào những quyết định lớn của địa phương, từ lựa chọn công nghệ, phát triển công nghiệp công nghệ số, xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo đến triển khai chuyển đổi số thực chất.
Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Hùng nhấn mạnh: “Nếu KH&CN vẫn "đứng ngoài bàn" quyết định phát triển của địa phương, thì không thể nói đến việc KH&CN trở thành động lực tăng trưởng. Sở KH&CN phải "ngồi cùng bàn" với các sở kế hoạch, tài chính, công thương ngay từ đầu”.
Một nội dung được Bộ trưởng phân tích sâu đó là việc chấm dứt cách làm phong trào, hình thức trong khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Theo đó, đổi mới sáng tạo không thể chỉ dừng ở khẩu hiệu hay số lượng hội thảo, mà phải được đo bằng năng suất, chất lượng và khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp, sản phẩm và nền kinh tế địa phương.
“Chúng ta không thể nói rất nhiều về đổi mới sáng tạo nhưng doanh nghiệp địa phương vẫn khó tiếp cận công nghệ, sản phẩm vẫn thiếu sức cạnh tranh. Đổi mới sáng tạo phải tạo ra giá trị thật, đóng góp trực tiếp cho tăng trưởng”, Bộ trưởng nêu rõ.
Đối với chuyển đổi số, Bộ trưởng tiếp tục nhấn mạnh yêu cầu làm thật, làm đến nơi đến chốn.
Theo Bộ trưởng, chuyển đổi số không phải là câu chuyện của riêng hạ tầng hay phần mềm, mà là thay đổi cách quản lý, cách vận hành và cách phục vụ người dân, doanh nghiệp.
“Nếu số hóa mà không thay đổi phương thức điều hành, không nâng cao hiệu quả quản lý, thì đó không phải là chuyển đổi số”.
Bộ trưởng cũng đặc biệt lưu ý đến yếu tố con người trong thực thi chính sách. Theo đó, thể chế dù đầy đủ đến đâu cũng không thể phát huy hiệu quả nếu thiếu đội ngũ cán bộ đủ năng lực, đủ bản lĩnh và dám chịu trách nhiệm.
“Giám đốc Sở KH&CN phải hiểu luật, hiểu công nghệ, nhưng quan trọng hơn là phải có tư duy đổi mới và tinh thần dấn thân. Bộ sẽ đồng hành, nhưng không thể làm thay địa phương”.
Từ chỉ đạo của Bộ trưởng có thể thấy rõ yêu cầu chuyển giai đoạn của ngành KH&CN, từ quản lý sang dẫn dắt, từ hỗ trợ sang tạo động lực phát triển.
Khi hành lang pháp lý đã được mở, thách thức lớn nhất không còn nằm ở thiếu cơ chế, mà nằm ở năng lực tổ chức thực hiện và quyết tâm hành động của đội ngũ lãnh đạo KH&CN ở địa phương.
Sở Khoa học và công nghệ Lai Châu tham dự trực tuyến tại điểm cầu Viễn thông Lai Châu tỉnh. Thạc sĩ Phạm Quang Cường dự và chủ trì tại điểm cầu.

Thạc sĩ Phạm Quang Cường – Phó Giám đốc Sở KH&CN dự và chủ trì tại điểm cầu VNPT Lai Châu.
Tại Hội nghị đã được nghe báo cáo dẫn đề về hoạt động khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số tại địa phương năm 2025. Năm 2025 đánh dấu khối lượng công việc khổng lồ và kết quả đột phá trong công tác xây dựng thể chế của Bộ Khoa học và Công nghệ, đặc biệt trong bối cảnh hợp nhất bộ máy và yêu cầu cấp bách về hoàn thiện hành lang pháp lý cho các lĩnh vực công nghệ mới. Bộ KH&CN đã tham mưu, trình Quốc hội ban hành 10 Luật và 01 Nghị quyết, hình thành khung pháp luật nền tảng cho kỷ nguyên số, bao trùm đầy đủ các trụ cột chiến lược về khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, từ công nghiệp công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, công nghệ cao, năng lượng nguyên tử, tiêu chuẩn - quy chuẩn, chất lượng, chuyển giao công nghệ và sở hữu trí tuệ.
Lĩnh vực khoa học và công nghệ: Công tác thẩm định công nghệ, chuyển giao công nghệ và phát triển thị trường công nghệ đã đạt được nhiều kết quả tích cực. Đã cấp 29 Giấy chứng nhận đăng ký chuyển giao công nghệ, cấp 12 Quyết định chỉ định tổ chức giám định máy móc, thiết bị, dây chuyền công nghệ. Thành lập mới 06 Khu Công nghệ cao. Tỉ trọng giá trị xuất khẩu sản phẩm công nghệ cao trên tổng giá trị xuất khẩu hàng hóa 9 tháng đầu năm ước đạt 49,32%.
Lĩnh vực đổi mới sáng tạo: Năm 2025, hệ sinh thái khởi nghiệp và chỉ số đổi mới sáng tạo của Việt Nam tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực, khẳng định vị thế trong khu vực và quốc tế. Chỉ số GII, Việt Nam xếp hạng 44/139 quốc gia, hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo của Việt Nam xếp hạng thứ 55/100 toàn cầu. Chỉ số PII (địa phương): Đã hoàn thành công bố PII năm 2025 vào ngày 01/10/2025. Tính đến nay cả nước có 962 doanh nghiệp KH&CN được cấp Giấy chứng nhận. có 26 tổ chức được cấp Giấy chứng nhận doanh nghiệp cao, 11 tổ chức được cấp Giấy chứng nhận hoạt động ứng dụng công nghệ cao và 01 tổ chức được cấp giấy chứng nhận cơ sở ươm.
Lĩnh vực bưu chính viễn thông: Năm 2025, hạ tầng số và bưu chính tiếp tục là huyết mạch quan trọng của nền kinh tế, với các chỉ số tăng trưởng ấn tượng và thứ hạng quốc tế được nâng cao rõ rệt. Doanh thu dịch vụ ước đạt 87.000 tỷ đồng, Có 760 doanh nghiệp bưu chính đang hoạt động; hoàn thiện mã bưu chính quốc gia đến cấp phường/xã. Doanh thu viễn thông đạt 123.646 tỷ đồng; đạt 123.646 tỷ đồng. Hạ tầng băng rộng: Tốc độ Internet Việt Nam thăng hạng mạnh mẽ thuộc nhóm nước dẫn đầu khu vực và ở mức “top 10-15” trên thế giới theo đánh giá quốc tế. Tốc độ internet băng rộng cố định đạt 271,95 Mbps; Tốc độ internet băng rộng di động đạt 160 Mbps. Đã thương mại hóa 5G với vùng phủ đạt 91,2% dân số, tập trung tại các đô thị và khu công nghiệp. Đã hỗ trợ sử dụng dịch vụ viễn thông công ích cho gần 683.000 hộ nghèo/cận nghèo và 5.668 điểm gồm: Trường học, trạm y tế xã, các điểm cung cấp dịch vụ truy nhập BRCĐ cho đồng bào dân tộc thiểu số
Lĩnh vực công nghệ số: Ngành công nghiệp công nghệ số tiếp tục khẳng định vai trò là động lực tăng trưởng quan trọng của nền kinh tế, với các chỉ số tài chính và xuất khẩu tăng trưởng vượt bậc với doanh thu toàn ngành ước đạt 198 tỷ USD.
Lĩnh vực chuyển đổi số: Tổng giao dịch qua Nền tảng tích hợp chia sẻ dữ liệu quốc gia ước đạt 1,2 tỷ giao dịch; Tỷ lệ hồ sơ trực tuyến toàn trình trên tổng số hồ sơ của các DVCTT toàn trình đạt 77,8%; tỷ lệ dịch vụ công có phát sinh hồ sơ trực tuyến đạt 83,9%, cấp trên 26,45 triệu chứng thư chữ ký số và khoảng 31 triệu chữ ký điện tử trong các lĩnh vực.
Lĩnh vực sở hữu trí tuệ: Đã tiếp nhận riêng năm 2025, hơn 183.700 đơn đăng ký quyền sở hữu công nghiệp được nộp; Đã cấp mới Giấy chứng nhận cho 63 tổ chức đại diện sở hữu công nghiệp và cấp. Chứng chỉ hành nghề cho 32 cá nhân, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của xã hội về đăng ký bảo hộ quyền SHTT. Đã tiếp nhận và xử lý 838 hồ sơ giám định các loại theo yêu cầu/trưng cầu của các tổ chức, cá nhân, trong đó có 133 hồ sơ trưng cầu giám định của các cơ quan thực thi quyền sở hữu trí tuệ và 705 hồ sơ yêu cầu giám định của các doanh nghiệp/tổ chức/cá nhân khác
Lĩnh vực tiêu chuẩn đo lường chất lượng: Là nền tảng hạ tầng kỹ thuật quốc gia (QI) vững chắc, hỗ trợ đắc lực cho sản xuất, kinh doanh và hội nhập quốc tế, cụ thể: Đã tiếp nhận, tổ chức thẩm định 528TCVN, công bố 372 TCVN; tiếp nhận đăng ký 43 QCVN và 07 QCĐP, góp phần hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia, tạo cơ sở pháp lý và kỹ thuật thống nhất cho hoạt động sản xuất, kinh doanh và quản lý nhà nước. Chấp nhận 146 TCVN hài hòa ISO, IEC giúp nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, hỗ trợ hội nhập kinh tế quốc tế, thúc đẩy xuất khẩu và thu hút đầu tư. Duy trì hoạt động 23 Ban kỹ thuật tiêu chuẩn quốc gia, tạo diễn đàn tập hợp chuyên gia, doanh nghiệp và cơ quan quản lý, qua đó phản ánh kịp thời yêu cầu thực tiễn của nền kinh tế vào hệ thống tiêu chuẩn. Đã phê duyệt 4.589 mẫu phương tiện đo; tiếp nhận đăng ký 178 lượt tổ chức và chỉ định 189 lượt tổ chức kiểm định, hiệu chuẩn, thử nghiệm; chứng nhận 5.900 chuẩn đo lường và 2.014 kiểm định viên; chỉ định 26 lượt tổ chức kiểm định đối chứng giúp bảo đảm độ chính xác, tin cậy của phương tiện đo trong các lĩnh vực sản xuất, thương mại, y tế, năng lượng, môi trường… Đã giải quyết 370 hồ sơ đăng ký hoạt động đánh giá sự phù hợp, cấp 198 Giấy chứng nhận đăng ký; cấp 06 Giấy xác nhận cho chuyên gia và tổ chức tư vấn HTQLCL theo TCVN ISO 9001; tiếp nhận 01 hồ sơ công bố năng lực đào tạo; công nhận 54 phòng thử nghiệm, hiệu chuẩn. Tiếp nhận và cấp mã số mã vạch cho 5.954 doanh nghiệp, tổ chức, với 289.039 loại sản phẩm được định danh, hỗ trợ doanh nghiệp trong việc quản lý chuỗi cung ứng, truy xuất nguồn gốc sản phẩm, nâng cao tính minh bạch và khả năng cạnh tranh của hàng hóa trên thị trường trong nước và quốc tế.
Lĩnh vực năng lượng nguyên tử: Được duy trì chặt chẽ, đảm bảo an ninh nguồn phóng xạ trên phạm vi toàn quốc, với khối lượng công việc cấp phép và kiểm soát gia tăng. Đã thẩm định và cấp 1.333 giấy phép tiến hành công việc bức xạ; cấp 1.000 chứng chỉ nhân viên bức xạ và chứng chỉ hành nghề. Cấp 38 giấy đăng ký hoạt động dịch vụ hỗ trợ ứng dụng năng lượng nguyên tử, triển khai tổng số 56 cuộc thanh tra về ATBXHN đối với 56 cơ sở trên cả nước. Phê duyệt 27 kế hoạch ứng phó sự cố bức xạ, hạt nhân; vận hành Lò 32 đợt an toàn, hiệu quả từ tháng 01/2025 – 09/10/2025 với tổng thời gian là 2.490 giờ ở công suất 500kWt, đạt chỉ tiêu kế hoạch
Bên cạnh những kết quả đạt được, năm 2026, Bộ KH&CN đề ra những nhiệm vụ trọng tâm như sau:
Tiếp tục hoàn thiện thể chế, chính sách, pháp luật, xây dựng và trình chính phủ quốc hội 02 luật trong chương trình năm 2026 là luật bưu chính ( sửa đổi) và luật sửa đổi bổ sung một số điều của luật đo lường. Rà soát, hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật thuộc thẩm quyền của chính phủ, thủ tướng chính phủ của bộ trường đảm bảo tính thống nhất.
Các Sở KH&CN tập trung thực hiện các nhiệm vụ sau:
Một là, triển khai đột phá chiến lược và hoàn thiện thể chế giai đoạn 2026 – 2030. Đây là nhóm nhiệm vụ ưu tiên hàng đầu, tập trung vào việc cụ thể hóa Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị và thực hiện các bộ luật mới vừa có hiệu lực.
Hai là, chuyển đổi số toàn diện và xây dựng chính quyền số hiện đại trong đó Nâng cấp Trung tâm dữ liệu chuẩn điện toán đám mây, phổ cập 5G và chuyển đổi giao thức IPv6. Phát triển dữ liệu dùng chung và vận hành IOC để chỉ đạo điều hành dựa trên dữ liệu thời gian thực. Tiếp tục thực hiện phong trào "Bình dân học vụ số", phổ cập kỹ năng số cơ bản cho trên 70% dân số trưởng thành.
Ba là, Nghiên cứu KH&CN, Phát triển Công nghệ Bán dẫn và Trí tuệ nhân tạo. Triển khai chiến lược phát triển công nghiệp bán dẫn, thiết kế chip vi mạch và ứng dụng AI trong quản lý nhà nước. Đẩy mạnh cơ chế đặt hàng, tuyển chọn nhiệm vụ mới cho năm 2026-2027 và nghiệm thu các đề tài chuyển tiếp. Tập trung vào nông nghiệp thông minh, bảo tồn nguồn gen và chuyển giao kết quả nghiên cứu vào sản xuất ở các tỉnh Sơn La, Lâm Đồng, Cà Mau, Bắc Ninh. Phát triển Hệ sinh thái Đổi mới sáng tạo và Nâng cao Chỉ số PII. Quản lý Nhà nước chuyên ngành (TCĐLCL, SHTT, ATBX). Kiện toàn Tổ chức bộ máy và Đào tạo nhân lực
Các ý kiến tại Hội nghị cho thấy, khi quyền hạn được mở rộng, yêu cầu đối với năng lực tham mưu và tổ chức thực hiện của Sở KH&CN cũng cao hơn rất nhiều. KH&CN không còn là “một mảng chuyên môn” đứng riêng lẻ, mà phải tham gia trực tiếp vào quá trình hoạch định chính sách phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.
Điều này đòi hỏi các Sở phải thay đổi vai trò, từ đơn vị quản lý nhiệm vụ sang đơn vị tư vấn chiến lược, có khả năng kết nối công nghệ với nhu cầu phát triển thực tiễn.
Trong bối cảnh khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số ngày càng gắn chặt với quá trình phát triển kinh tế - xã hội, yêu cầu đối với quản lý nhà nước ở địa phương đã thay đổi căn bản.
KH&CN không còn vận hành như một lĩnh vực độc lập, mà phải tham gia trực tiếp vào các quyết định phát triển, từ lựa chọn công nghệ, nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm đến xây dựng năng lực cạnh tranh dài hạn.
Khi không gian phân cấp được mở rộng, vai trò của Sở KH&CN vì thế được đặt ở vị trí trung tâm kết nối, điều phối và dẫn dắt, bảo đảm các chính sách, công cụ và nguồn lực KH&CN được triển khai đồng bộ, gắn với mục tiêu phát triển cụ thể của từng địa phương.



