• :
  • :
Chào mừng bạn đến với cổng thông tin điện tử Sở khoa học và công nghệ tỉnh Lai Châu
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Phê duyệt Quy hoạch mạng lưới tổchức khoa học và công nghệcông lập thời kỳ2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050

Sáng 13/3, Phó Thủ tướng Trần Lưu Quang ký Quyết định số 229/QĐ-TTg phê duyệt Quy hoạch mạng lưới tổ chức khoa học và công nghệ công lập thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050.

Mục tiêu

Đến năm 2030 phát triển mạng lưới tổ chức khoa học và công nghệ (KH&CN) công lập có cơ cấu hợp lý theo định hướng ưu tiên phát triển của quốc gia, ngành và lĩnh vực, nâng cao tiềm lực và hiệu quả hoạt động của các tổ chức KH&CN công lập, tiếp cận với chuẩn mực quốc tế, làm nền tảng để tạo bứt phá về năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế.

Mục tiêu cụ thể là tiếp tục kiện toàn, sắp xếp các tổ chức KH&CN công lập, thực hiện giảm đầu mối hợp lý song song với hình thành tổ chức KH&CN mới phù hợp với xu thế phát triển KH&CN của thế giới và đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.

Đến năm 2025, phấn đấu giảm 10% đầu mối các tổ chức KH&CN công lập so với thời kỳ 2016 - 2020. Đến năm 2030, bảo đảm giảm 20% đầu mối các tổ chức KH&CN công lập so với thời kỳ 2016 - 2020.

Nâng cao năng lực nghiên cứu của các tổ chức KH&CN theo hướng tiếp cận với chuẩn quốc tế. Năm 2025, có khoảng 25 - 30 tổ chức KH&CN công lập được xếp hạng khu vực và thế giới. Đến năm 2030, có khoảng 40 - 50 tổ chức KH&CN công lập được xếp hạng khu vực và thế giới.

Hình thành hệ thống trung tâm đổi mới sáng tạo và trung tâm khởi nghiệp đổi mới sáng tạo công lập trên địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nhằm thúc đẩy đổi mới sáng tạo ở các địa phương. Năm 2025, hình thành các trung tâm đổi mới sáng tạo, khởi nghiệp đổi mới sáng tạo tại 03 vùng Bắc, Trung, Nam; phấn đấu 40% địa phương hình thành tổ chức KH&CN công lập có chức năng đổi mới sáng tạo, khởi nghiệp đổi mới sáng tạo từ việc kiện toàn tổ chức đối với các tổ chức KH&CN công lập, đơn vị sự nghiệp công lập trên địa bàn. Đến năm 2030, 100% địa phương hình thành tổ chức KH&CN công lập có chức năng đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp đổi mới sáng tạo từ việc kiện toàn tổ chức đối với các tổ chức KH&CN công lập, đơn vị sự nghiệp công lập trên địa bàn.

Nghiên cứu thành lập trung tâm tích hợp KH&CN hiện đại, đạt trình độ tiên tiến, trước mắt thành lập tại Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, từng bước mở rộng đến các vùng kinh tế - xã hội trọng điểm.

Đến năm 2025, nhân lực nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ (quy đổi toàn thời gian) đạt 10 người trên một vạn dân, đến năm 2030 đạt 12 người trên một vạn dân.

Đến năm 2050, mạng lưới tổ chức KH&CN công lập đủ năng lực đáp ứng yêu cầu hoạt động KH&CN và đổi mới sáng tạo của đất nước; một số tổ chức KH&CN công lập bắt kịp trình độ tiên tiến của thế giới, có năng lực cạnh tranh vượt trội ở một số ngành, lĩnh vực KH&CN.

Phương án phát triển

1. Cơ cấu mạng lưới tổ chức KH&CN gồm:

- Hệ thống các tổ chức KH&CN công lập ở trung ương (gồm các tổ chức KH&CN công lập thuộc thẩm quyền quản lý của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và các đại học quốc gia). Trong đó, sẽ tiến hành rà soát, tinh gọn đầu mối các tổ chức KH&CN nghiên cứu ứng dụng, dịch vụ KH&CN thuộc các bộ, ngành, khắc phục tình trạng trùng lặp, chồng chéo về chức năng, nhiệm vụ, phù hợp với định hướng ưu tiên về phát triển KH&CN và đổi mới sáng tạo của quốc gia, ngành.

Đẩy mạnh phát triển các tổ chức nghiên cứu ứng dụng trong các ngành, lĩnh vực ưu tiên, then chốt để triển khai các hướng nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ mới; tập trung ưu tiên phát triển công nghệ có khả năng ứng dụng cao, nhất là công nghệ số, sinh học, trí tuệ nhân tạo, cơ điện tử, tự động hóa, điện tử y sinh, cơ khí chế tạo, năng lượng, môi trường. Nghiên cứu thành lập trung tâm tích hợp KH&CN hiện đại, đạt trình độ tiên tiến, trước mắt thành lập tại Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh; tiếp tục duy trì mỗi bộ, ngành có 01 tổ chức KH&CN thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu chiến lược và chính sách trong lĩnh vực phụ trách...

- Hệ thống các tổ chức KH&CN công lập ở địa phương (gồm các tổ chức KH&CN công lập thuộc thẩm quyền quản lý của Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương); cụ thể: Tiếp tục duy trì mỗi tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có ít nhất 01 tổ chức dịch vụ KH&CN cung cấp dịch vụ sự nghiệp công sử dụng ngân sách nhà nước về tiêu chuẩn đo lường chất lượng, sở hữu trí tuệ, an toàn bức xạ và hạt nhân, thông tin và thống kê KH&CN, ứng dụng và chuyển giao tiến bộ KH&CN, hỗ trợ đổi mới sáng tạo, khởi nghiệp đổi mới sáng tạo và các nhiệm vụ sự nghiệp trong lĩnh vực KH&CN được giao trên địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương...

Thúc đẩy hình thành và đầu tư nâng cao năng lực cho các tổ chức KH&CN công lập hoạt động ứng dụng công nghệ, đổi mới sáng tạo, khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với lợi thế và ưu tiên phát triển của từng vùng kinh tế - xã hội.

- Hệ thống các tổ chức KH&CN công lập thuộc tổ chức do Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ thành lập mà không phải là đơn vị sự nghiệp công (gồm các tổ chức KH&CN thuộc các tập đoàn, tổng công ty do nhà nước nắm giữ 100% vốn).

Tăng cường liên kết các tổ chức KH&CN công lập với các doanh nghiệp KH&CN, các đơn vị nghiên cứu, tư vấn trong nước và ngoài nước có thế mạnh, dẫn đầu về lĩnh vực KH&CN để thúc đẩy kết nối, phát triển KH&CN và đổi mới sáng tạo.

2. Đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật gồm Đầu tư về diện tích xây dựng tổ chức KH&CN công lập;  Về không gian làm việc của tổ chức KH&CN công lập; Về thiết bị nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ.

10 giải pháp thực hiện quyết định số 299/QĐ-TTg

Về cơ chế chính sách: Hoàn thiện chính sách đẩy mạnh thực hiện cơ chế tự chủ của tổ chức KH&CN công lập; nghiên cứu xây dựng cơ chế chính sách từng bước chuyển tổ chức KH&CN công lập trong lĩnh vực nghiên cứu cơ bản về trực thuộc các trường đại học, học viện để thúc đẩy gắn kết nghiên cứu đào tạo; nghiên cứu cơ chế chính sách ưu tiền, đột phá trong thu hút, đào tạo, bồi dưỡng trọng dụng nhân tài, trong chính sách tuyển dụng tiền lương; các chính sách cho phép nhà khoa học công lập được làm việc và tham gia góp vốn, thành lập điều hành doanh nghiệp KH&CN công lập nắm quyền chi phối.

Về phát triển nhân lực KH&CN: tiếp tục chuẩn hóa đội ngũ cán bộ KH&CN theo tiêu chuẩn chứ danh, vị trí việc làm được cơ quan thẩm quyền ban hành; đẩy mạnh phân cấp, phân quyền theo hướng tăng quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của tổ chức KH&CN trong việc trọng dụng nhân lực KH&CN; đẩy mạnh thu hút chuyên gia người Việt Nam ở nước ngoài và chuyên gia người nước ngoài tham gia hoạt động KH&CN tại các tổ chức KH&CN; tăng cường xây dựng, đào tạo và phát triển đội ngũ cán bộ triển khai công tác đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp đổi mới sáng tạo.

Về tăng cường cơ sở vật chất: phân bổ quỹ đât phù hợp cho phát triển các tổ chức KH&CN công lập với ưu đãi về thuế, giải phóng mặt bằng, bố trí mặt bằng cho các doanh nghiệp, nhất là trong các khu công nghiệp, khu công nghệ cao, nông nghiệp cao, khu sản xuất tập trung; nâng cao hiệu quả, hiệu suất sử dụng cơ sở vật chất, phòng thí nghiệm chia sử tài nguyên, bố trí kinh phí duy trì hoạt động thường xuyên cho cơ sở vật chất, nâng cao trình độ, năng lực công nghệ của tổ chức KH&CN công lập.

Về khoa học và công nghệ: Đẩy mạnh ứng dụng KH&CN và các thành tựu cách mạng công nghiệp lần thứ 4 trong quản lý điều hành hoạt động các tổ chức KH&CN công lập; ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý các nguồn lực KH&CN và đổi mới sáng tạo, kết nối hỗ trợ mạng lưới các nhà quản lý, nhà khoa học viện nghiên cứu...

Về liên kết, hợp tác phát triển: Thúc đẩy liên kết giữa các tổ chức KH&CN công klapaj trong vùng, giữa các vùng, giữa các tổ chức KH&CN công lập liên ngành thông qua đào tạo nhân lức, chia sẻ kinh nghiệm; tăng cường liên kết giữa các tổ chức KH&CN công lập với các doanh nghiệp để thúc đẩy thương mại hóa kết quả nghiên cứu, thu hút sự tham gia của doanh nghiệp trong các dự án, nhiệm vụ quan trọng cấp quốc gia có sản phẩm khoa học, công nghệ phục vụ tăng trưởng và phát triển doanh nghiệp.

Về giáo dục, tuyên truyền: Tiếp tục đẩy mạnh công tác truyền thông nâng cao nhận thức của các cấp ủy Đảng, chính quyền, các cơ quan đơn vị tổ chức có liên quan và nhân dân về vai trò của KH&CN à đổi mới sáng tạo trong phát triển kinh tế xã hội.

Về hợp tác quốc tế: Tăng cường mở rộng hợp  tác quốc tế trong nghiên cứu và phát triển, ứng dụng KH&CN đẩy mạnh thực hiện các Hiệp định, thỏa thuận song phương đối với các đối tác phát triển trong việc đổi mới và nâng cao chất lượng của các tổ chức KH&CN nhằm gia tăng số lượng tổ chức KH&CN công lập được quốc tế xếp hạng.

Về huy động và phân bổ vốn đầu tư: Tăng cường nguồn vốn từ ngân sách nhà nước để đầu tư cơ sở vật chất trang thiết bị nghên cứu cho các tổ chức KH&CN công lập; đẩy manh xã hội hóa huy động nguồn lực đầu tư ngoài ngân sách nhà nước nhất là các tập đoàn, doanh nghiệp lớn để đa dạng hóa nguồn đầu tư, từng bước tăng phí đầu tư cho các tổ chức KH&CN hoạt động có hiệu quả.

Về mô hình quản lý, phương thức hoạt động: Thực hiện giải thể các tổ chức KH&CN công lập hoạt động không hiệu quả theo quy định với lộ trình phù hợp đẩy mạnh sắp xếp tinh gọn đầu mối các tổ chức KHCN; thực hiện cơ chế tự chủ, nâng cao hiệu quả hoạt động của các tổ chức KH&CN công lập; đẩy mạnh giảm số lượng người làm việc hưởng lương từ ngân sách nhà nước, tăng sosoo lượng người làm việc hưởng lương từ nguồn thu sự nghiệp tương ứng

Về tổ chức thực hiện và giám sát thực hiện quy hoạch.

 

 

 


Tin liên quan