
Trong giai đoạn 2016-2025, Chương trình đã triển khai 551 dự án tại 34/34 tỉnh, thành phố, xây dựng 1.426 mô hình ứng dụng khoa học và công nghệ, chuyển giao 2.354 quy trình công nghệ tiên tiến, đào tạo hơn 1.800 cán bộ quản lý, trên 4.000 kỹ thuật viên cơ sở và tập huấn cho hơn 82.700 lượt nông dân. Các mô hình ứng dụng khoa học và công nghệ mang lại hiệu quả kinh tế tăng trung bình trên 30% so với phương thức sản xuất truyền thống. Những con số trên cho thấy khoa học và công nghệ đã thực sự trở thành động lực phát triển ở khu vực nông thôn, miền núi, góp phần đưa tri thức đến gần hơn với người dân, doanh nghiệp và chính quyền cơ sở; biến kết quả nghiên cứu thành năng suất lao động, giá trị kinh tế và sinh kế bền vững
Tại Hội thảo, nhiều tham luận đã minh chứng rõ nét hiệu quả của việc ứng dụng và chuyển giao khoa học, công nghệ vào thực tiễn sản xuất như việc Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Hoa, Cây cảnh, Viện Nghiên cứu Rau quả trong 10 năm qua đơn vị đã chuyển giao công nghệ cho 20 dự án tại nhiều địa phương; xây dựng 45 mô hình sản xuất hoa công nghệ cao và tập huấn cho khoảng 2.500 lượt nông dân. Nhiều mô hình trồng lan Hồ điệp, lily, cúc, đồng tiền đạt giá trị từ 2,5-3 tỷ đồng/ha/năm, góp phần hình thành các vùng sản xuất hàng hóa, nâng cao thu nhập và thay đổi tư duy sản xuất của người dân.
Ở lĩnh vực chăn nuôi, Công ty Cổ phần Ong Tam Đảo đã làm chủ 15 quy trình công nghệ nuôi ong và chế biến các sản phẩm từ ong mật, xây dựng chuỗi liên kết khép kín với người nuôi ong. Nhờ ứng dụng khoa học và công nghệ, năng suất mật ong tăng từ 10-15 kg lên 36 kg/đàn/năm, doanh thu doanh nghiệp tăng 56%, nhiều sản phẩm đạt chuẩn OCOP và được xuất khẩu sang các thị trường khó tính như Mỹ, Đức, Nhật Bản và Hàn Quốc. Đến nay, các kết quả của dự án vẫn tiếp tục được phát huy, tạo việc làm và thu nhập ổn định cho người dân.
Trong khi đó, Công ty Cổ phần Thực phẩm Cánh Đồng Việt đã ứng dụng thành công công nghệ nuôi cấy mô để nhân giống nha đam sạch bệnh, xây dựng vùng nguyên liệu đạt tiêu chuẩn VietGAP phục vụ chế biến và xuất khẩu. Dự án không chỉ giúp doanh nghiệp chủ động nguồn giống chất lượng cao mà còn thay đổi nhận thức của người dân về sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, góp phần phát triển nền nông nghiệp xanh, kinh tế tuần hoàn và nâng cao giá trị sản phẩm.
Ở lĩnh vực lâm nghiệp, Viện Nghiên cứu Công nghiệp rừng đã triển khai 9 dự án chuyển giao công nghệ chế biến gỗ tại nhiều tỉnh miền núi phía Bắc. Các công nghệ sản xuất ván ghép thanh, gỗ ghép khối, viên nén sinh học và đũa gỗ xuất khẩu đã giúp nâng cao giá trị gỗ rừng trồng, tận dụng hiệu quả phụ phẩm lâm nghiệp, tạo việc làm và hình thành chuỗi sản xuất gỗ theo hướng hiện đại.
Bên cạnh những kết quả đạt được, các đại biểu cũng chỉ ra một số khó khăn như nguồn lực dành cho chuyển giao công nghệ còn hạn chế, thủ tục hành chính còn kéo dài, thiếu nhân lực kỹ thuật chất lượng cao ở cơ sở và việc duy trì, nhân rộng mô hình sau khi kết thúc dự án còn gặp nhiều trở ngại.
Từ thực tiễn triển khai, các địa phương, viện nghiên cứu và doanh nghiệp kiến nghị Bộ Khoa học và Công nghệ tiếp tục xây dựng chương trình kế thừa sau năm 2025; hoàn thiện cơ chế, chính sách hỗ trợ ứng dụng và chuyển giao công nghệ; tăng cường đào tạo nguồn nhân lực, hỗ trợ thương mại hóa kết quả nghiên cứu và nhân rộng các mô hình hiệu quả.
Đối với các tỉnh miền núi như Lai Châu, Chương trình có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc đưa khoa học và công nghệ đến với vùng sâu, vùng xa, tạo điều kiện để người dân tiếp cận các quy trình sản xuất tiên tiến, phát triển các sản phẩm đặc trưng theo hướng hàng hóa, nâng cao thu nhập và giảm nghèo bền vững.
Những kết quả đạt được sau một thập kỷ triển khai không chỉ khẳng định hiệu quả của Chương trình mà còn tạo nền tảng quan trọng để khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo tiếp tục đồng hành cùng các địa phương trong phát triển nông nghiệp hiện đại, xây dựng nông thôn mới và phát triển kinh tế - xã hội bền vững trong giai đoạn tới.



